Egypt Israel Oct 2007




Bấm nút "Download Now"
để cài Windows Media Player. 
Windows Media Player 11
Download Now

Windows Media Download Center
 

LTS. "Con Đường Yêu Thương" do Hoàng Quý đúc kết dựa theo dàn bài cuốn "A Simple Path" của Mẹ Têrêsa Calcutta. Cuốn sách này xuất bản năm 1996 tại California và sau đó nhiều người tìm kiếm, nhưng không còn tái bản nữa. Bài viết sau đây là phần mở đầu và đoạn đầu của phần I trong cuốn "Con Đường Yêu Thương" đề cập về Cầu nguyện. Xin cống hiến quý độc giả tác phẩm hữu ích này.

Wednesday, June 15, 2005

Phần IV: Thành quả của yêu thương là phục vụ

Phần IV: Thành quả của yêu thương là phục vụ
(tiếp theo)


Tình yêu đi vào hành động

Điểm diễn tả nổi bật nhất trong tư tưởng và đường lối hoạt động mục vụ của Mẹ Têrêsa chính là Mẹ diễn tả tình yêu, một tình yêu chủ động, một tình yêu khởi động, một tình yêu đi vào hành động. Yêu với Mẹ không phải là ngồi yên một chỗ suy niệm những thương đau của Chúa, của con người khốn khổ, rồi khóc thương cho Chúa và cho người đồng loại. Yêu với Mẹ cũng chẳng phải là viết sách hoặc rao giảng trên giấy trắng mực đen, hoặc trên bục giảng trong thánh đường hoặc trong phòng hội họp về tình yêu Chúa và yêu thương tha nhân. Yêu với Mẹ thiết thực và hữu hiệu hơn nhiều. Yêu chính là phải theo gót chân Chúa Giêsu đi vào lòng đời để đem Tin Mừng đến cho từng người, đi vào tận hang cùng ngõ hẻm để ủi an và cứu vớt những ai thống khổ.

Còn ai diễn tả tình yêu cứu thế hơn Mẹ Têrêsa, “Cầu nguyện đi vào hành động chính là yêu thương và yêu thương đi vào hành động chính là phục vụ. Hãy cho đi vô điều kiện bất cứ những gì một ai cần thiết trong lúc này. Điểm chính yếu là làm một điều gì đó, dù là nhỏ nhặt, và diễn tả thái độ săn sóc của các con qua các hành động bằng cách cho đi thời giờ. Có khi là làm những việc thuộc lãnh vực thể lý (phục vụ những người đau yếu hoặc hấp hối), có khi là cung ứng những ủi an tâm linh cho những người bị giữ chân trong nhà (những người cảm thấy mình bị cô lập, và cô độc ngay trong gia đình của mình). Nếu một người bệnh tật cần thuốc men, hãy cung cấp thuốc men cho họ; nếu ai cần ủi an, hãy tới an ủi họ.

Chúng ta đều là con cái Thiên Chúa, do đó điều hệ trọng là chúng ta phải biết chia sẻ các tặng phẩm của Ngài. Đừng bận tâm tại sao thế giới xẩy ra nhiều vấn đề như thế - nhưng chỉ cần đáp ứng các nhu cầu của con người. Thiên Chúa đã quá tốt đối với chúng ta: những việc làm yêu thương luôn luôn là phương tiện giúp chúng ta gần gũi với Chúa hơn. Hãy nhìn vào cuộc đời Chúa Giêsu khi Ngài hành động lúc tại thế. Ngài sử dụng cuộc đời Ngài chỉ vào công việc làm điều phúc lợi. Mẹ thường nhắc nhở các nữ tu rằng ba năm Chúa Giêsu sống là ba năm Ngài đi cứu chữa những người bệnh tật và phong cùi, trẻ em và người lớn; và thật đúng như những gì chúng ta đang làm, đang rao giảng Tin Mừng qua các việc làm của chúng ta. Thật là một đặc ân cho chúng ta được phục vụ và đó là việc phục vụ đích thực với tràn đầy từ tâm mà chúng ta đang cố công và cho đi” (ASP, tr.114-115).

Đa số con người, kể cả các tín hữu thường chú tâm vào những việc làm gây được thanh thế, đem lại khen ngợi trước mắt và ít ai tìm đến các hoạt động yêu thương lầm lũi như các nữ tu và các cộng sự viên của Mẹ Têrêsa. Anh Geoff nhận xét thật chính xác, “Rất họa hiếm chúng tôi tìm ra một ai tìm đến săn sóc những người bị bỏ rơi, nhất là trên những xứ sở như Ấn Độ, nơi mà các nhu cầu thật khổng lồ. Các nhà Thừa Sai Bác Ái của chúng tôi thường là trạm dừng chân cuối cùng cho rất nhiều bệnh nhân đã bị loại bỏ, bị vất ra ngoài lề xã hội” (ASP, tr. 116).

Từ khởi đầu bằng một thân một mình, Mẹ Têrêsa lầm lũi bước vào dòng đời với hai bàn tay trắng đi tìm những người hấp hối và ôm về săn sóc trong ngôi đền bỏ hoang của người Ấn Độ, ngày nay đã có cả hơn 3000 nam nữ tu sĩ và các cộng sự viên trên hơn 80 quốc gia trên thế giới đang tham gia tích cực vào công cuộc Thừa Sai Bác Ái của Mẹ. Các hoạt động Thừa Sai Bác Ái không còn nằm trong một vài lãnh vực từ thiện xã hội như săn sóc các người hấp hối hoặc người phong cùi, nhưng thực sự đã lan ra nhất nhiều lãnh vực như các hoa trái của một cây cổ thụ đang rủ bóng máy yêu thương trên khắp thế giới.

Lucinda Vardey đã hệ thống hóa các hoa trái của tình yêu đi vào hành động của Dòng Thừa Sai Bác Ái như sau:

HOẠT ĐỘNG TÔNG ĐỒ qua các lớp học ngày Chúa Nhật, các nhóm học hỏi Thánh Kinh, các nhóm Công giáo tiến hành, các buổi viếng thăm các bệnh nhân trong bệnh viện, các viện dưỡng lão và các nhà giam tù.

SĂN SÓC Y TẾ qua các cơ sở phát thuốc, các bệnh viện phong cùi, các trung tâm phục hồi bệnh nhân phong cùi; qua các nhà dành cho các trẻ em bị bỏ rơi, các trẻ em tàng tật cả thể lý lẫn tinh thần, các người bệnh tật và hấp hối, các bệnh nhân bệnh AIDS, các bệnh nhân TB, các trung tâm thiếu dinh dưỡng và các bệnh viện lưu động.

PHỤC VỤ GIÁO DỤC qua các lớp tiểu học trong các khu nhà ổ chuột, các lớp may vá, các lớp thương mại, các lớp thủ công, các vườn trẻ và các chương trình hậu học đường.

CÔNG TÁC XÃ HỘI qua các kế hoạch an sinh xã hội và giáo dục; các nhà giữ trẻ, các nhà dành cho người vô gia cư, nhà cho các bà mẹ không lập gia đình, các điểm trú đêm, các trung tâm kế hoạch hóa gia đình theo phương pháp tự nhiên.

CÔNG TÁC TRỢ CẤP qua các trung tâm cung ứng thực phẩm và quần áo. Tại đây chúng tôi cung cấp các phần ăn khô, các bữa ăn và các trợ cấp gia đình khẩn thiết.


Những Trung Tâm Bác Ái

Chúng ta vừa thấy những hoạt động của Dòng Thừa Sai Bác Ái thật đa dạng. Mẹ Têrêsa và các đồng sự của Mẹ không từ chối bất cứ một công tác bác ái nào, dù nhỏ bé và hèn hạ nhất. Các nhà bác ái được lần lượt mở ra tại Calcutta, rồi tại nhiều thành phố Ấn Độ và tràn lan tới rất nhiều các quốc gia trên thế giới. Nơi đây chúng tôi chỉ nhắc đến những nhà bác ái đầu tiên và nổi tiếng nhất như những cơ sở nền tảng cho công cuộc thừa sai bác ái của mẹ và các cộng sự viên đã thực hiện hơn suốt bán thế kỷ vừa qua.


Nhà hấp hối Kalighat
còn được gọi là Nirmal Hriday tại Calcutta. Kalighat chính là trạm nghỉ chân cho các khách hành hương sau khi tới thăm viếng đền Kali. Sau bao cố công đầy quả cảm và gan lì, Mẹ Têrêsa đã tranh đấu với chính quyền cho phép Mẹ được sử dụng cơ sở này săn sóc các người hấp hối ngoài hè pho,á để họ chết xứng đáng như một con người, chứ không phải con vật. Ngôi nhà này hiện nay chứa được khoảng 50 giường cho nam giới và 55 giuờng cho nữ giới.

Thường các bệnh nhân được đưa tới đây là những kẻ vô danh. Sau những lau rửa, ân tình hỏi han, săn sóc ăn uống, những con người khốn khổ này mới hoàn hồn nói ra tên tuổi và những nỗi bất hạnh của mình. Các nữ tu không quên hỏi han từng người theo tôn giáo nào, để sau khi chết, mỗi người được chôn cất theo đúng thủ tục của đạo giáo. Những ai khai mình không theo tôn giáo nào, đều được chôn cất theo thủ tục chôn cất Ấn Độ.

Nữ tu Dolores điều hành trung tâm này tâm sự, “Chúng tôi không hỏi những người này lý do tại sao họ lại sống trên hè phố: chúng tôi không cần tìm hiểu lai lịch họ. Chúng tôi cũng chẳng phán đoán hoàn cảnh nào đã đẩy đưa họ khốn khổ như thế này, vì điều họ mong muốn chính là tìm lại được một chút yêu thương và săn sóc. Thế là họ mãn nguyện. Chúng tôi chỉ biết săn sóc những ai được đưa đến với chúng tôi và Chúa được an nghỉ qua chúng tôi” (ASP, tr., 123-124).

Trước áp lực của một nhóm người đòi trục xuất Mẹ ra khỏi ngôi đền, một giới chức đã trực tiếp tới quan sát ngôi nhà dành cho người hấp hối dưới sự săn sóc của Mẹ và các cộng sự viên. Sau khi quan sát tận tường các hoạt động bác ái đầy tình người tại đây, ông tuyên bố với các người chống đối, ”Tôi hứa sẽ trục xuất người đàn bà này ra khỏi nơi đây, và tôi sẽ thực hiện. Tuy nhiên hãy lắng nghe tôi đây, tôi sẽ chỉ trục xuất bà ra khỏi đây khi mà các bà mẹ và chị em của quý bạn đến làm những việc mà hiện nay các nữ tu đang làm tại nơi đây. Trong đền thờ, quý bạn có các tượng thần bằng đá, nhưng nơi đây quý bạn có một nữ thần bằng người sống động” (MTC. tr., 44). Và thế là những cuộc vận động trục xuất đành tắt ngúm.

Và không ai khác, chính Mẹ Têrêsa đã kể lại giai thoại sau đây, “Vào một buổi sáng, mẹ đang lau rửa cho các bệnh nhân, một vị sãi của đền thờ bước vào quỳ xuống trước mặt mẹ, rồi đứng lên ân cần nói với mẹ, 'Suốt ba mươi năm tôi đã phục vụ Nữ Thần Kali trong ngôi đền này. Giờ đây, Mẹ là Vị Nữ Thần đang đứng trước mặt tôi dưới dáng vóc con người. Hôm nay là ngày vinh dự đặc biệt tôi bái phục Mẹ đang hiện diện trước mắt tôi'” (MTC. tr., 44).


Ngôi Nhà Trẻ Em
còn được gọi là Shishu bhavan tại Calcutta. Săn sóc các trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi hoặc tật nguyền cũng là một trong những công tác phục vụ hàng đầu của Dòng Thừa Sai Bác Ái. Các nữ tu khắp trên thế giới thường chăm sóc các trẻ em mồ côi, chính vì đã học với Chúa Kitô bài học yêu thương các trẻ em, ”Ai tiếp đón một trẻ em như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy” (Mc 9:36) - ”Cứ để các trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa thuộc về những ai giống như chúng. Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa như một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào” (Mc 10:14-16).

Tại Calcutta, các trẻ em bị bỏ rơi hoặc vô thừa nhận thường được tìm thấy nơi các thùng rác, hoặc người ta lén mang đến trước tu viện, trước bệnh viện hoặc trước nhà thờ. Có khi chính cảnh sát tìm thấy các em bé này nằm lăn lóc trên hè phố và họ đưa đến cho Dòng của Mẹ. Vào năm 1976, báo chí tại Calcutta đăng hình Mẹ đang ẵm bế một em bế tươi cười. Mẹ nhận trách nhiệm săn sóc năm em bé bị bỏ rơi trong một bệnh viện, rồi tới 102 em sơ sinh cũng bị bỏ rơi như thế sau khi người mẹ sinh nở. Và dần dần từ đó, Shishu Bhavan trở thành ngôi nhà của trẻ em tại Calcutta.

Nữ tu Charmaine Jose và nhiều nữ tu khác đảm trách trung tâm này. Các nữ tu săn sóc khoảng 300 em bé đau ốm hoặc suy dinh dưỡng, hoặc các người mẹ độc thân nhờ trông nom để đi làm. Khu vực ngoại trú của trung tâm thường xuyên có ba bác sĩ chẩn bệnh và phát thuốc cho khoảng 1.000 tới 2.000 bệnh nhân mỗi tuần. Nơi đây còn đặt bàn giấy chuyển giao trẻ em cho những ai muốn nhận con nuôi. Khi lớn lên, các em được gửi đến các trường nội trú tiếp tục học hành, rồi đi làm. Các em còn được giúp đỡ lập gia đình khi khôn lớn. Và cứ thế, nhiều em sống cuộc sống gia đình hạnh phúc.

Shishu Bhavan còn là trung tâm nấu ăn nuôi dưỡng cho khoảng 1.000 người mỗi ngày. Nhiều người ăn mày thường tìm đến trung tâm này. Ngoài ra, nơi đây còn là nơi giải quyết những trường hợp bất ngờ xẩy đến. Nữ tu Charmaine Jose diễn tả, “Chúng tôi là những con người của hè phố và việc làm của chúng tôi cũng là những việc làm trên hè phố. Chúng tôi cầu nguyện khi đi bộ tới thăm nom các gia đình, ngồi bên cạnh các em bé hấp hối, hoặc mang thuốc đến cho những ai cần kíp. Mội nữ tu trông nom một dẫy phố mỗi ngày để tìm xem chúng tôi có thể làm gì giúp người nghèo khổ. Chúng tôi cũng đi tới các làng mạc nơi thiếu thốn các tiện nghi và mở các trung tâm y tế tại đó. Đôi khi chúng tôi đảm nhận cả 2.500 bệnh nhân một tuần tại những địa điểm đó.

Nhiều nữ tu đã được huấn luyện trở thành y tá, bác sĩ và cứ thế làm việc trong các phòng chẩn bệnh và phát thuốc. Chúng tôi mở trường cho các trẻ em hè phố bị đối xử tàn tệ hoặc bán dâm. Các em thường thiếu thốn thực phẩm, nâng đỡ hoặc thuốc men. Chúng tôi thu lượm các em, rồi dậy dỗ, nuôi nấng, cho ăn mặc và sau đó một thời gian, chúng tôi tìm kiếm các người bảo trợ giúp đỡ các em tới trường học hành và hoàn thành công việc học vấn. Chúng tôi tiếp tục trông nom các trẻ em tật nguyền cả về thể chất lẫn tinh thần. Đa số các em không sống lâu, nhưng những em tới tuổi mười ba, chúng tôi chuyển giao tới các nhà khác của chúng tôi” (ASP, tr. 121-122).


Làng Phong Cùi Prem Nivas
. Ấn Độ, một đất nước nghèo nàn lạc hậu, trở thành miếng mồi ngon cho căn bệnh trầm kha phong cùi hoành hành. Dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Têrêsa không trực tiếp săn sóc người phong cùi. Tuy nhiên, trên bước đường phục vụ những người nghèo khổ, người phong cùi cũng trở thành khách hàng của nhà dòng. Các nữ tu săn sóc những người phong cùi tại khu vực ngoại ô thành phố Calcutta. Sau khi lệnh thành phố bắt chuyển trại cùi xa khỏi thành phố để khuếch trương đô thị, Mẹ đã thực sự trở thành chủ động lo cho người phong cùi.

Cách đây khoảng hơn năm chục năm, khi bác sĩ người Bỉ, ông Hemeryckx công bố kết quả thử nghiệm là bệnh phong cùi không lây lan như người lo sợ, ông đề nghị một phương thức chữa trị rộng rãi cho mọi người phong cùi vẫn có thể sống tại gia đình và hàng tuần đến các xe lưu động chữa trị bệnh cùi. Dòng Thừa Sai bác Ái đã khởi xướng thiết lập chiếc xe lưu động này dưới gốc cây Titagath, chỉ cách Calcutta vài cây số.

Tổ chức quy mô hơn, Nhà Dòng đã thiết lập làng cùi được đặt tên là Gandhiji Prem Nivas. Đầu tiên nơi đây chỉ là nhữnmg mái nhà lá nghèo nàn, dần dần biến thành ngôi làng với những ngôi nhà xây cất rộng lớn với đầy đủ phòng ốc, bệnh viện, trường học, hồ tắm. Nơi đây không những người cùi sinh sống, nhưng còn tạo ra công ăn việc làm nữa.

Anh Vinod, người đứng điều hành ngôi làng này phát biểu, “Chúng tôi có 1.400 trường hợp phong cùi được điều trị điều hòa hàng tháng và đã có 38.000 người ghi tên nơi đây từ năm 1958... Những người cùi với những dị dạng xấu xí thường trở nên tuyệt vọng và không muốn sống trong xã hội đã khước từ họ. Vì thế, chúng tôi thiết dựng cơ sở này và tạo ra việc làm. Nhờ đó người cùi lấy lại được đức tin, niềm hy vọng và lòng tự trọng trong một thời gian ngắn.

Chúng tôi nhận lãnh những người ăn mày trước đây sống trên vỉa hè hay trạm hỏa xa. Chúng tôi còn nhặt nhãnh các trẻ em nhỏ mắc bệnh này. Cha mẹ các em nói với chúng tôi khi nào các em khá hơn, họ sẽ đưa các em về nhà, nhưng rồi chẳng bao giờ họ làm thế cả. Và như vậy đây cũng là chốn cư ngụ của các em. Khi trưởng thành, các em thường lập gia đình với nhau, tìm việc, làm nhà và chung sống với nhau.

Các bệnh nhận tự làm lấy mọi công việc - từ dậy nhau ăn mặc, chích thuốc và bảo quản nhà cửa. Họ săn sóc lấy nhay. Họ hiểu những khổ đau và khó khăn của nhau hơn chúng tôi. Dĩ nhiên các nam tu sĩ đã được huấn nghệ chữa trị bệnh cùi. Các thầy là những y công cùng trợ lực với các bác sĩ trong công việc mổ xẻ hàng tuần. Tuy nhiên tốt hơn cũng vẫn là các bệnh nhân giao tiếp với nhau.

Chúng tôi sống rất tự túc - chúng tôi trồng rau trái và khi nào dư dật, chúng tôi giúp các nhà khác. Chúng tôi còn biết nuôi cá và chăn nuôi de,â các súc vật khác trong các nông trại nho nhỏ. Ngoài ra chúng tôi còn có những khu vực làm thủ công, thợ mộc, xây cất và máy móc. Có đủ công việc thông thường cho từng người” (ASP, tr., 119-120).

Linh mục Edward Le Jolly đã viết và Mẹ Têrêsa và Dòng Thừa Sai Bác Ái như sau, “Mẹ Têrêsa biết rằng cần đặt niềm tin nơi Thiên Chúa hơn người khác. Người nghèo cần tới niềm hy vọng, cần tới Thiên Chúa. Những ai tước đoạt niềm hy vọng nơi họ, nguồn ủi ai duy nhất của họ, chính là phạm trọng tội đối với nhân loại. Những ai muốn sống tự đủ cho mình, không có khuynh hướng vươn lên chân, thiện, mỹ vô biên, họ hãy sống lấy cho mình họ đi, nhưng đừng cướp giật niềm hy vọng của những ai nghèo khổ.

Mẹ và các nữ tu mang đến cho người nghèo khổ niềm hy vọng, một niềm hy vọng và niềm tin vĩnh cửu nơi Thiên Chúa từ nhân. Các nữ tu trẻ trung, học thức cúi xuống trên các bệnh nhân, lau chùi những thương tích cho họ, mỉm cười với họ, hân hoan chào hỏi họ và chẳng bao giờ dám để lộ một một tính khí nóng nảy hoặc một câu nói khiếm nhã. Tại sao các nữ tu này lại đối xử với những người xa lạ như chính anh chị em ruột thịt của mình? Và các nữ tu làm như thế không phải trong vài ba năm, nhưng trong cả cuộc sống. Những con người đơn thành này không khùng mát và cũng chẳng dễ gì trở thành ”chạm giây”, các nữ tu cũng chẳng mù quáng vì mê hoặc, nhưng tâm trí chân thành của các nữ tu khám phá ra chân lý, các nữ tu là những tấm gương phản ánh tình yêu Thiên Chúa. Như vậy, qua những khổ đau của họ, họ đang tiến đến với Thiên Chúa” (MT, tr. 50).


Lan Rộng Khắp Thế Giới


Tại Ấn Độ
Sau mười năm Tu Hội Thừa Sai Bác Ái được Roma thừa nhận, Mẹ Têrêsa và các nữ tu vẫn tiếp tục họa mình theo gương Chúa Giêsu sống một cuộc sống và chia sẻ những thương đau trong đại cuộc cứu thế. Các nữ tu này đã lắng nghe những Lời thân tình huyền nhiệm từ nơi Ngài, rối từ đó học với Ngài những tư tưởng và ước muốn thâm sâu và chân tình nhất như các môn đệ khi xưa.

Và khi Thánh Thần hiện xuống, Ngài cũng sai các nữ tu lên đường rao giảng Tin Mừng và làm chứng tá cho Tin Mừng của Ngài trên khắp thế giới, nhưng không phải bằng lời rao giảng suông, nhưng bằng chính hành động và bằng cuộc sống của các nữ tu khả ái này. Linh mục Edward Le Jolly đã sánh ví ”Calcutta của Dòng Thừa Sai Bác Ái là một Giêrusalem mới và từ đây là khởi điểm cho công cuộc tông đồ tràn lan đi khắp thế giới. Calcutta trở thành như gốc rễ cây nho cho muôn ngàn ngành nho phát triển và sinh tràn đầy hoa trái bác ái” (MT. tr. 51).

Các chi nhánh của Dòng Thừa Sai Bác Ái đem Tin Mừng đến cho những người nghèo khổ nhất trên khắp thế giới. Đây là dấu hiệu Chúa Cứu Thế đang đến với nhân loại và Nước Trời đang xuất hiện cụ thể giữa các dân tộc 'Tin Mừng được rao giảng cho những người nghèo khổ.'

Khắp Ấn Độ, từ chính quyền cho tới các Giám mục, nhận thức được công cuộc bác ái hiệu lực của các Nữ tu Thừa Sai Bác Ái, các ngài tới xin Mẹ mở các chi nhánh, trước nhất tại Ranchi, rồi Delhi, rồi Jhansi... Rồi trong một buổi lễ Khánh thành một Nhà Trẻ tại Delhi, Thủ Tướng Nerhu và tháp tùng là ông Krishna Menon cũng hiện diện trong buổi lễ, Mẹ Têrêsa đã thuật lại buổi lễ như sau, “Mẹ mời họ bước vào nguyện đường và mẹ quỳ gối cầu nguyện. Nerhu đứng đàng sau mẹ. Krishna Menon bước lên bàn thờ đọc tấm bia và hỏi mẹ ý nghĩa lời nói được ghi trên tấm bia. Rồi tất cả ngồi xuống trên sàn bắt đầu nghi lễ khánh thành. Các trẻ em choàng vòng hoa cho Thủ tướng và dâng lên bó hoa thiêng liêng. Mẹ cắt nghĩa bó hoa thiêng là tất cả những lần cầu nguyện và những hy sinh nhỏ bé của các em dâng lên Thiên Chúa để Ngài chúc phúc cho Thủ Tướng. Sau đó mẹ hỏi ông, 'Thưa Ngài, tôi có thể trình bầy về công cuộc chúng tôi đang làm không?' Nehru trả lời gọn gàng, 'Không, thưa Mẹ, Mẹ không cần phải trình bầy, tôi đã biết hết rồi. Đó là lý do tại sao hôm nay tôi tới đây.' (MT. tr. 52).

Bombay, thủ đô thương mại sầm uất tại Ấn Độ tiếp nhận Mẹ. Và chỉ một năm sau khi đặt địa điểm hoạt động, Đại Hội Thánh Thể tại Bombay đã đón tiếp Giáo Chủ Phaolô VI. Hàng triệu người Ấn Độ đã tuốn ra đường chào mừng vị Giáo hoàng Công giáo. Chính trong dịp này vị Giáo Chủ muốn đi thăm những khu nghèo nàn nhất của thành phố, nhưng chính quyền từ chối vì sợ các cơ quan truyền thống báo chí quốc tế đi theo. Và cuối cùng Ngài xin đi thăm một số cơ sở bác ái, trong đó có cơ sở của Mẹ Têrêsa. Tại đây, với đầy cảm kích, Ngài tặng cho Mẹ Têrêsa chiếc xe hơi Lincoln sang trọng do một ân nhân người Hoa Kỳ trao tặng. Và thế là báo chí quốc tế đăng tải hình Mẹ chụp chung với Vị Giáo Hoàng khả kính và giới thiệu công cuộc bác ái của Mẹ với thế giới.


Tại Venezuela
Địa điểm đầu tiên trên thế giới Mẹ và tu hội của Mẹ được một Giám mục mời tới phục vụ, chính là Venezuela, tại Trung Mỹ. Châu Mỹ La Tinh chiếm một phần hai dân số Công giáo trên thế giới. Tại đây, các nữ tu phải thi hành công cuộc phục hưng đạo giáo thực sự giữa muôn triệu người Công giáo, vì thiếu linh mục và nữ tu nuôi dưỡng đức tin cho họ, chính vì thế hàng ngày Công giáo mất đi rất nhiều tín đồ tại đây. Mẹ nhận lời.

Venezuela trở thành bàn đạp cho Tu Hội của Mẹ tiến vào Trung Mỹ và Nam Mỹ cho công cuộc thừa sai bác ái. Mẹ thiết lập tại Vanezuela 3 địa điểm, rồi sau đó Peru, rồi Columbia, Bolovia, Brasil. Linh mục Jolly tiếp tục nhận định, “Các nữ tu không đến đây với những ý niệm trí thức, cũng chẳng lo lắng thay đổi cấu trúc hoặc phản đối những chính sách trong Giáo hội. Họ đến với các người nghèo khổ với tình yêu thương của Chúa Kitô. Trái tim rộng mở và bàn tay vươn tới. Họ nói với những người dân ở đây bằng ngôn ngữ dễ hiểu. Hoạt động của họ thật lây truyền và thách thức. Họ chiếm được sự hợp tác của những ai họ tới phục vụ. Họ đem tới nơi đây những ý niệm tôn kính, lịch thiệp và tự trọng với tất cả những ai không biết họ và chưa nhận ra mình đáng kể trước mắt Thiên Chúa và có giá trị với Chúa Kitô” (Mt. tr. 56-57).


Tại Roma
Tại Roma, thủ đô Công giáo, vị Giáo Chủ đã mời tu hội của Mẹ đến phục vụ. Còn gì vinh hạnh hơn cho Mẹ và Tu hội của Mẹ được phục vụ tại đây. Mẹ cảm động nhận lời, “Có nhiều việc phải hoàn thành tại đây, nhiều khu ngoại ô Roma nghèo khổ; nhiều người cần nhận các phép bí tích; nhiều trẻ em không được dậy bảo cầu nguyện, nhiều phong trào chống báng Thiên Chúa tại đây. Chúng ta sẽ sát cánh với vị Giáo Chủ; chúng ta sẽ làm việc dưới bóng đền Thánh Phêrô” (Mt. tr. 57).

Các nữ tu được tiếp đón nồng nhiệt tại đây, chính vì các nữ tu ”sống ở những khu vực ổ chuột, giữa những người nghèo khổ. Các nữ tu đi xin ăn cho người nghèo như những người khất thực tại các chợ búa... Các nữ tu dậy các trẻ em biết cách cầu nguyện và chuẩn bị cho các em tiếp nhận các bí tích. Các nữ tu còn đi thăm viếng những người đau yếu và già cả” (MT. tr. 58).

Từ Roma, tu hội của Mẹ tuyển nhận các tu sinh từ khắp Âu Châu, Phi Châu và Mỹ Châu. Tu hội mở thêm nhà Tập tại Luân Đôn.


Úc Châu
Vào tháng sáu năm 1969, thể theo lời mời của Giám mục Warren, Mẹ đã đặt chân tới Úc Châu lần đầu tiên và cách đó ít lâu Mẹ cùng với năm nữ tu khác thiết lập tại đây một nhà đầu tiên làm việc với các người thổ dân.

Sau đó một năm, nhận lời mời của Tổng Giám Mục Knox tại Melbourne. Mẹ và các nữ tu tới đây thiết lập cơ sở. Lúc đầu các nữ tu cảm thấy như mình thất nghiệp vì không tìm thấy những người nghèo khổ hoặc hấp hối nằm trên hè phố. Các nữ tu trở về với hai bàn tay trắng. Nhưng mẹ bề trên ra lệnh cho các nữ tu đến gõ cửa từng nhà xem họ cần giúp đỡ gì không. Nhìn thấy các nữ tu mặc bộ đồ trắng Ấn Độ không giống ai, lúc đầu họ ái ngại, nhưng dần dần, nhờ thái độ sống đầy chân thành và từ tâm, các nữ tu này chinh phục được sự cảm mến và tin tưởng.

Từ đây các nữ tu thiết lập cơ sở phục hồi những người nghiền rượu và ma tuý. Và tại Đại Hội Thánh Thể tại Melbourne, Mẹ Têrêsa được mời làm một trong ba nhân vật thuyết trình trong đại hội với đề tài: sứ mệnh của mẹ phục vụ Chúa Kitô trong các người nghèo khổ và làm thế nào nhìn ra Chúa đang khổ đau trong các người anh em bất hạnh. Lời nói của Mẹ đã gây được xúc động và xác tín nơi thính giả. Trước khi ra về khỏi Úc Châu, Mẹ đã nhắn nhủ các nữ tu: ”Mẹ không muốn các con trình diễn các phép lạ với không một lòng từ tâm; tốt hơn, mẹ thích các con làm việc sai sót với tấm lòng từ tâm.” (I do not want you to perform miracles with unkindness; rather, I prefer you to make mistakes in kindness) (Mt. tr. 59).


Vùng Trung Đông
Mẹ Têrêsa tới gặp linh mục Jolly với niềm vui sướng tràn đầy, ”Thưa cha, chúng con sắp đi Jordan, miền Trung Đông, gần nơi Chúa sinh trưởng. Các nữ tu sẽ đặt chân tới những nơi đâu Chúa đã đặt chân tới, rao giảng và làm phép lạ. Nơi đâu Chúa chết vì yêu thương con người. Đó không phải một điều kỳ diệu sao?”


Và linh mục Jolly nhận định, ”Trung Đông là cái nôi của ba tôn giáo độc thần lớn: Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo là những tôn giáo chiếm quá bán tín đồ trên khắp thế giới. Các Ngài đã sinh trưởng tại những xứ sở đói khổ, nơi người ta cảm nghiệm được quyền năng và thánh thiện của Thượng Đế. Abraham và Môsê là những tổ phụ của niềm tin, cũng như Mẹ là người đàn bà của niềm tin. “Thiên Chúa giáo, khởi đầu từ Giêrusalem đã bành trướng tới khắp thế giới thành những trung tâm rộng lớn; giờ đây đang trở lại điểm khởi hành qua những nữ tu từ Đông phương” (Mt. tr. 59).

Và sau đó chẳng bao lâu, một lần nữa, Mẹ Têrêsa nhấn mạnh đến sứ vụ lần này với linh mục Jolly, “Thưa Cha, chúng con sắp đi Yemen. Chính thủ tướng của xứ sở này đã mời gọi chúng con. Sau sáu thế kỷ Kitô giáo vắng mặt nơi đây, chẳng còn linh mục, chẳng còn lễ lậy, cũng chẳng còn Bí tích, giờ đây các sơ sắp sửa tham dự Thánh lễ tại đây. Sau sáu trăm năm rồi. Phải chăng đây không là điều kỳ diệu?"

Để đảm bảo lời mời này thật nghiêm chỉnh và đầy thiện chí, thủ tướng chính phủ trao cho Mẹ Chiếc Gươm Danh Dự. Mẹ cười nói, ”Ngài trao cho tôi chiếc gươm sao?” Và ông trả lời, ”Phải, thưa Mẹ, dân tộc này thuộc dòng giống những nhà binh nghiệp hảo thủ. Chính vì thế họ đến tặng Mẹ chiếc Gươm Danh Dự.” Phải chăng đây không là ”chiếc gươm lưỡng cạnh,” đó là Lời Thiên Chúa dùng để đem lại hòa bình cho vùng Trung Đông? (MT. tr. 60).